(Dân trí) - Đó là chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá Trịnh Văn Chiến về việc nghiêm cấm và xử lý các trường hợp cán bộ, công chức tổ chức đi lễ hội, đền chùa trong giờ làm việc.

Kỳ nghỉ Tết Nguyên đán đã qua hơn một tuần nhưng cho đến thời điểm này, việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương, thời gian làm việc của một bộ phận cán bộ công chức vẫn "chệch choạc". Nhiều công chức nhà nước "ăn bớt" thời gian làm việc để đi thăm hỏi, chúc túc nhau; đi lễ chùa...
Phát hiện xe công đi chùa, báo ngay chủ tịch tỉnh
Sau Tết Nguyên đán, nhiều cán bộ công chức "mượn" giờ nhà nước để đi dự lễ hội xuân, đi lễ đầu năm (ảnh minh họa).
Để chấn chỉnh tình trạng trên, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa đã ra công điện về việc chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính; nghiêm cấm sử dụng xe công đi lễ hội và tổ chức lễ hội trong giờ làm việc.
Nội dung công điện nêu rõ: Các cơ quan đơn vị, tập trung tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp theo chương trình kế hoạch công tác của ngành, địa phương, đơn vị mình và các nhiệm vụ UBND tỉnh giao, đảm bảo đáp ứng yêu cầu về tiến độ và chất lượng.
Chỉ đạo thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính; kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc chấp hành thời gian làm việc, đảm bảo tiếp nhận và giải quyết kịp thời các thủ tục hành chính và công việc của tổ chức, công dân theo quy định.
Nghiêm cấm và xử lý nghiêm các trường hợp cán bộ, công chức, viên chức, tập thể cơ quan, đơn vị sử dụng xe công đi lễ hội, đền, chùa; tổ chức đi lễ hội, đền chùa trong giờ làm việc.
Theo đó, Giám đốc các Sở, trưởng các ban ngành, đơn vị cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố chịu trách nhiệm trước Chủ tịch tỉnh nếu để xảy ra vi phạm thuộc cơ quan mình, địa bàn mình quản lý.
Bên cạnh đó, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa giao Sở Nội vụ tổ chức kiểm tra công vụ đột xuất việc chỉ đạo thực hiện trên. Đặc biệt là các bộ phận trực tiếp thực thi công vụ và giải quyết công việc thường xuyên của người dân, doanh nghiệp.
Trong quá trình giám sát, nếu phát hiện những trường hợp vi phạm ý kiến chỉ đạo nêu trên thì gọi điện phản ánh ngay cho Chủ tịch UBND tỉnh để xử lý theo quy định.
Duy Tuyên
Tục lệ đi chùa, đền, phủ ...cầu an đầu năm đã có từ xa xưa ở Việt Nam. Từng có thời tục lệ này bị mai một phần nào. Những năm gần đây người đến những nơi này cúng lễ nhiều hơn, đặc biệt gia tăng ở giới trẻ.
Đầu xuân Quý Tị giới trẻ Nà Nội nườm nượp đổ tới các chùa, đền, phủ... cầu an.
Những ngày đầu xuân chùa Hà (Cầu Giấy, Hà Nội), địa điểm nức tiếng cầu duyên lúc nào cũng tấp nập nam, nữ thanh niên đến thắp hương, dâng sớ.
Theo qui định của BQL di tích chùa, mỗi người chỉ được thắp 3 nén hương.
Vì nức tiếng là nơi cầu duyên linh thiêng nên rất nhiều thanh nữ đến đây dâng hương.
Theo người dân thì chùa Hà linh thiêng không chỉ ở việc cầu duyên mà mọi người đến đây để  cầu an nữa.
Tại chùa Quán Sứ người đến dâng hương rất đông và số người trẻ chiếm tỉ lệ khá cao.
Thành tâm trước sân chính chùa Quán Sứ.



Dâng sớ cầu an lên Đức Phật.

Các cô gái thời hiện đại rất năng đến những ngôi chùa cổ kính cấu an.
Phủ Tây Hồ những ngày này lúc nào cũng nườm nượp người đến cầu an.
Nhiều cậu trai còn rất trẻ cũng đến thắp hương, dâng sớ cầu may.

Chắp hai bàn tay một cách thành kính, miệng đọc nhẩm những điều ước tốt đẹp và tin sẽ thành sự thực.
Không ít người quan niệm kẹp tiền giữa hai bàn tay khi khấn sẽ linh thiêng, hiệu nghiệm hơn.
Để điều ước linh ứng, sau khi cầu mỗi người đều chuẩn bị ít tiền cung kính đặt lên ban thờ.
Những đứa trẻ theo người lớn đi chùa cũng chắp tay ước điều ước của riêng mình.
Lê Anh Dũng 
Theo: vietnamnet.vn

Hầu hết phản hồi của độc giả VietNamNet không đồng tình với ông Hoàng Hữu Phước về những lý lẽ ĐBQH này dùng trong bài viết công kích ĐB Dương Trung Quốc trên blog và cả về lời xin lỗi sau đó.
Không có việc gì nhỏ
Viết trên trang mạng Emotino phê phán “Dương Trung Quốc và bốn điều sai năm cũ” (tứ đại ngu), ĐB Hoàng Hữu Phước gay gắt chỉ trích nhà sử học Dương Trung Quốc về nhiều quan điểm ông Quốc từng nêu tại Quốc hội, trong đó có vấn đề mại dâm, biểu tình, văn hóa từ chức...
Trong lời xin lỗi sau đó khi trả lời phỏng vấn của VietNamNet, ông Hoàng Hữu Phước nhắc lại "trong lúc nhà nước đang có quá nhiều cái để đương đầu, vậy mà ông Dương Trung Quốc liên tục nói về mại dâm, biểu tình, văn hóa từ chức… hãy để tập trung vào cái lớn".
Độc giả VietNamNet đặt câu hỏi về quan điểm của ông Phước về "việc lớn, việc nhỏ", "việc gì không nên bàn, việc gì cần bàn" tại cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước.
Bất đồng quan điểm và tranh luận công khai, đặc biệt giữa các ĐBQH, là chuyện bình thường
Độc giả kobe (tulinhbk@...) chia sẻ không nên viện cớ đất nước đang đối mặt với vấn đề lớn, thế lực bên ngoài, thế lực chống đối để gạt đi những chuyện bị coi là nhỏ như biểu tình, đất đai... "Nếu không nói ra những chuyện bị cho là nhỏ thì những bất cập trong xã hội, nạn tham nhũng sẽ vẫn còn và làm khổ người dân. Đất nước Việt Nam là của 90 triệu người dân chứ không phải của riêng ai", độc giả viết.
Độc giả Lương Vi (vanluong22@...) còn nhận định "tất cả những việc ông Phước cho là không phải việc lớn lại là những việc lớn nhất".
Độc giả Quỳnh Như (nhu1899@...) thì đặt câu hỏi: Nếu ĐB Hoàng Hữu Phước thấy xã hội có nhiều vấn đề lớn cần quan tâm hơn mại dâm, biểu tình, văn hóa từ chức... thì đó là những vấn đề gì và bản thân ông Phước đã làm gì để thay đổi?
"Chúng tôi là những người dân nghèo, mong muốn một xã hội bình yên hạnh phúc, nhưng ngày ngày đọc báo đều thấy tệ nạn tràn lan, cướp giật lộng hành, thực phẩm bẩn đe dọa, tai nạn giao thông đầy rẫy... nên chỉ ước mơ có một phép màu là những người đứng đầu đất nước có tầm nhìn xa trông rộng, một trái tim yêu thương dân để có thể giải quyết các vấn đề trên", độc giả này viết.
Bạn đọc hoangphi5@... nhắc nhở: "ĐBQH là người đại diện cho nhân dân, đem tiếng nói, nguyện vọng chính đáng của nhân dân lên bàn nghị sự. Từ những việc nhỏ đến việc lớn trên bàn nghị sự cũng đều phải lấy cái gốc là nhân dân".
Độc giả Nguyễn Tấn Khôi (nguyentankhoi81@...) nhấn mạnh: "ĐB hãy đấu tranh, bảo vệ quyền và lợi ích của người dân, đừng để người dân thất vọng, không phụ lá phiếu của nhân dân".
Độc giả Ngô Trọng Hiếu (ngotroghieu@...) ủng hộ trên diễn đàn Quốc hội, giữa các ĐBQH, nên tiếp tục tranh luận làm sáng tỏ vấn đề, hiến kế phục vụ lợi ích nước nhà, không nên quan niệm "trực ngôn là cung cấp cho những kẻ xấu, các thế lực không thân thiện một cơ hội bằng vàng để xúc xiểm QH, ĐBQH Việt Nam" như ông Hoàng Hữu Phước lo ngại.
Tranh luận cần có văn hóa
ĐB Hoàng Hữu Phước đưa ra bài viết công kích nói trên tại một trang mạng của giới kinh doanh mà ông đã tham gia viết đều từ 4 năm nay với 700-800 bài, và suy nghĩ "một bài hết sức vô tư, đăng trên trang mạng quen thuộc, không ngờ lại bị phản ứng như vậy", đặc biệt vì "blog là một nhật ký mở".
Tuy vậy, độc giả Chu Văn Đức (chuvanduchlu@...) nhắc nhở ông Phước: "Blog không có lỗi gì. Người dân phản ứng không phải vì ông viết bài trên mạng mà vì bài viết thể hiện sự thiếu văn hóa". Điển hình là những từ ngữ mang tính tấn công cá nhân mà cách giải thích theo nghĩa Hán Việt của ông Hoàng Hữu Phước không nhận được sự chia sẻ của độc giả.
Độc giả Susu (hoanglan.at@...) nhấn mạnh: Blog là nơi chia sẻ tâm tư cá nhân, là một cuốn nhật ký nhưng là nhật ký bỏ ngỏ, mọi người đều có thể đọc, không thể 'vô tư' không biết đến phản ứng có thể có của dư luận....
Chính vì vậy, mặc dù ghi nhận việc ông Hoàng Hữu Phước đã lên tiếng xin lỗi ông Dương Trung Quốc, độc giả vẫn cho rằng lời xin lỗi này là chưa đủ. Ông Phước cần thể hiện sự cầu thị đối với đông đảo công chúng, người dân, đặc biệt là cử tri TP.HCM, những người đã bỏ phiếu bầu ông vào QH. Độc giả Hoài Phương (Ghoaiphuong57@...) nhấn mạnh "sửa sai như thế nào mới quan trọng".
Nhân đây, độc giả cũng chia sẻ nhiều ý kiến về văn hóa tranh luận. "Bất đồng quan điểm và tranh luận công khai, đặc biệt giữa các ĐBQH, là chuyện bình thường", đa số ý kiến độc giả đồng tình, song một bài viết mang tính xúc phạm thì không thể biện giải rằng chỉ là "sai về phương pháp tranh luận" như độc giả Lưu Quang Ngọc (luuqngoc@...) nhận định.
Độc giả Ha văn son (hvson@...) chỉ ra việc "đặt cái tôi cá nhân lớn quá, với những người phản biện mình thì tỏ ra khó chịu, bực tức, cay cú và tìm cách công kích với những ngôn ngữ không đẹp đẽ" là một việc đáng thất vọng.
Độc giả Nguyen xuan thinh (thinhalex@...) khuyên "nếu không đồng tình chính kiến thì có thể phản bác ngay tại hội trường hay tìm một phương án nào đó tốt hơn", trong khi độc giả nguyenquoctrung68@... nhấn mạnh: "Người dân có quyền đòi hỏi những người đại diện cho mình, cho tiếng nói của mình phải hiểu những văn hóa ứng xử tối thiểu trong đời sống hàng ngày, chưa nói đến văn hóa nghị trường cũng như những việc to lớn của đất nước".
Nhiều độc giả liên hệ với vấn đề "văn hóa từ chức" trong những trao đổi lại với ĐB Hoàng Hữu Phước. Họ cũng đặt vấn đề hoàn thiện quy trình bầu cử để cử tri có nhiều thông tin hơn khi bỏ phiếu bầu người xứng đáng vào Quốc hội.
Chung Hoàng

Cuộc gặp giữa hai nhà lãnh đạo Nhật, Mỹ bàn thảo nhiều vấn đề quan trọng. Tuy nhiên, “chiếc bóng” Trung Quốc dường như là tâm điểm lớn nhất.
"Ông có thể yên tâm rằng, ông sẽ có một đối tác mạnh mẽ ở Mỹ trong suốt nhiệm kỳ”, Tổng thống Obama nói với ông Abe tại cuộc gặp ở Nhà Trắng hôm thứ sáu. Lãnh đạo Mỹ khẳng định, liên minh với Nhật là “nền tảng trung tâm” cho chính sách của Mỹ ở châu Á.
Ông Obama còn cho rằng, ông và ông Abe - người đang có chuyến công du Washington lần đầu tiên kể từ khi lên nắm quyền, đã nhất trí trong “quyết tâm tiến hành các hành động mạnh mẽ” để đáp trả việc Triều Tiên thử hạt nhân đầu tháng này.
Về phần mình, Thủ tướng Nhật nói, ông nhất trí với quan điểm của lãnh đạo Mỹ là không nhân nhượng với Triều Tiên và cần thiết có một nghị quyết mới từ Hội đồng Bảo an.
Quan hệ Trung - Nhật
Liên quan tới căng thẳng giữa hai nền kinh tế lớn nhất châu Á xung quanh vấn đề chủ quyền quần đảo Senkaku-Điếu Ngư, ông Abe gọi Mỹ “là một nhân tố ổn định”. 

"Chúng tôi luôn giải quyết vấn đề Senkaku bằng thái độ điềm tĩnh và chúng tôi sẽ tiếp tục làm như thế”, ông Abe nhấn mạnh. Ông nói, hai bên “đã nhất trí hợp tác duy trì tự do ở các vùng biển, tạo lập một khu vực mà nơi đó sự quản trị không bằng vũ lực mà dựa trên luật pháp quốc tế.
Tổng thống Mỹ không đề cập tới tranh chấp trong các bình luận, nhưng Ngoại trưởng John Kerry đã đề cao sự kiềm chế của Nhật trong việc thể hiện các nỗ lực để ngăn chặn xung đột.
Sau cuộc gặp tại Nhà Trắng, ông Abe đã nói với Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược tại Washington rằng, ông sẽ hợp tác với lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình, nhưng không quên khẳng định, quần đảo Senkaku/Điếu Ngư là của Nhật Bản.
Kinh tế
Ông Abe lên nắm quyền vào tháng 12 với cam kết gia tăng chi tiêu quốc phòng và nhanh chóng khôi phục nền kinh tế trì trệ. Trong khi ở Washington, ông cũng nhấn mạnh về kế hoạch của mình sẽ tốt cho Mỹ, Trung Quốc và các đối tác thương mại khác.
"Nhật sẽ xuất khẩu nhiều hơn nhưng cũng sẽ nhập khẩu nhiều hơn”, ông cho biết. “Mỹ sẽ hưởng lợi đầu tiên, tiếp đến là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và nhiều nước khác”.
Lãnh đạo hai nước còn nhất trí về việc thiết lập các giai đoạn để Nhật tham gia hội đàm về thoả thuận tự do thương mại do Mỹ khởi xướng gọi là Đối tác xuyên Thái Bình Dương. 
Thái An (theo AP, Reuters)

(Dân trí) - Đúng 20h30' tối 23/2, lực lượng chức năng làm nhiệm vụ đã yêu cầu toàn bộ du khách và người dân ra khỏi các khu vực dâng hương để chuẩn bị cho buổi lễ khai ấn diễn ra vào giờ Tý. Hàng vạn người đã tập trung quanh khu vực đền chờ giờ khai ấn.

Đúng 20 giờ 30 phút, Ban tổ chức đã di chuyển những người đang dâng hương trong khu vực đền Trần ra khuôn viên đền để chuẩn bị làm công tác khai ấn vào giờ Tý. Lực lượng Cảnh sát cơ động, an ninh trật tự, bảo vệ, công an làm việc hết sức vất vả để vận động người dân và du khách ra ngoài.
Di chuyển người dân ra khỏi khu vực làm lễ khai ấn.
Di chuyển người dân ra khỏi khu vực làm lễ khai ấn.
Nhiều người để có được vị trí tốt cho thời điểm khai ấn đã chấp nhận cái rét và thậm chí nhịn đói để chờ đến thời điểm khai ấn. Bên cạnh đó, vẫn còn một số người dân cố tình ở lại trong khu đền để chờ khai ấn.
Ghi nhận của PV Dân trí đến thời điểm hơn 21 giờ ngày 23/2 (tức đêm 14 tháng giêng), dòng người vẫn nô nức “đổ” về quanh khu vực đền Trần đếm từng phút đến thời điểm quan trọng nhất của lễ hội đền Trần.
Đến 21 giờ 30 phút, những người có giấy mời (hầu hết là giấy mời của đại biểu) được di chuyển vào bên trong. Do chỉ sắp xếp một cửa vào và đến 2 vòng bảo vệ, hơn nữa cửa vào đền Trần lại khá hẹp nên xảy ra tình trạng xô đẩy, chen chúc nhau.
Một số người không có giấy mời vẫn cố tình đi vào nơi dành cho đại biểu nên càng làm cho cảnh trong khu vực đền thêm hỗn loạn hơn.
Thời tiết vào lúc này ở Nam Định khá đẹp, nhiệt độ khoảng 20 độ C tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và du khách tham gia buổi lễ.
Những hình ảnh PV Dân trí ghi lại trước thời điểm khai ấn đền Trần:
Lực lượng Cảnh sát cơ động đang vận động người dân làm theo hướng dẫn của BTC.
Lực lượng Cảnh sát cơ động đang vận động người dân làm theo hướng dẫn của BTC.

Một số du khách đang đứng đợi trước giờ làm lễ.
Một số du khách đang đứng đợi trước giờ làm lễ.

Chen chúc nhau đứng sau hàng rào bảo vệ.

Chen chúc nhau đứng sau hàng rào bảo vệ.
Chen chúc nhau đứng sau hàng rào bảo vệ.

Ngồi chờ đợi.
Ngồi chờ đợi.

 Biển người chờ đợi trước giờ làm lễ khai ấn.
 Biển người chờ đợi trước giờ làm lễ khai ấn.

 Cảnh chen chúc, xô đẩy nhau lúc đoàn đại biểu vào đền trước giờ khai ấn.

 Cảnh chen chúc, xô đẩy nhau lúc đoàn đại biểu vào đền trước giờ khai ấn.
 Cảnh chen chúc, xô đẩy nhau lúc đoàn đại biểu vào đền trước giờ khai ấn.
Đức Văn - Duy Tuyên
Sinh ra trên đời, cha mẹ và Tổ quốc là những giá trị thiêng liêng nhất, dù làm gì, giàu có hay nghèo khổ, dù vất vả hay sung sướng thì đó vẫn là niềm tự hào, là gốc gác, là nguồn cội . Để có được một đất nước như ngày hôm nay là kết tinh máu xương của biết bao thế hệ, biết bao con người có tên và không tên đã đem mạng sống của mình để giữ gìn và điểm tô giang sơn gấm vóc. Có thể nói, tấm hộ chiếu Việt Nam hôm nay là điều thiêng liêng, là niềm vinh dự của mỗi người Việt Nam khi đi ra nước ngoài, nó thấm đượm máu, mồ hôi của những người con ưu tú của dân tộc. Vậy mà Ngô Quang Kiệt lại có phát ngôn xằng bậy, phỉ báng đến sự linh thiêng ấy của dân tộc: “tôi cảm thấy nhục nhã khi mang tấm hộ chiếu Việt Nam”.
Ý tôi là tôi cảm thấy nhục nhã là người Việt Nam, chứ không phải cái Hộ chiếu
Là người có học thức, là lãnh tụ tinh thần của giáo dân, từng là người đứng đầu giáo tỉnh Hà Nội, một người thay Chúa trời chăn dắt phần hồn cho con chiên. Vậy mà ông ta lại nói một câu xúc phạm đến cả một dân tộc mà trong đó có cả bản thân ông ta và gia đình . Một dân tộc gan góc đương đầu với biết bao biến cố lịch sử, người trước ngã người sau lên, quyết giành bằng được độc lập, để cho chúng ta có ngày hôm nay sống trong hòa bình, hạnh phúc. Vậy thì vì lẽ gì ông lại cảm thấy nhục nhã khi là công dân của một đất nước có lịch sử anh hùng như thế?

Người Việt chúng ta vẫn có câu nói rằng: "Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nhà nghèo". Trong khi đất nước ta đang ngày một phát triển và nhân dân ta đang sống trong hoà bình, yên vui, hạnh phúc; vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định thì Ngô Quang Kiệt lại lên tiếng phỉ báng dân tộc, phủ nhận công lao ông cha ta. Đó là điều không thể chấp nhận được ở một con người mang danh Chúa để dìu dắt con chiên?

Nếu xấu hổ vì phải cầm hộ chiếu quốc tịch Việt Nam khi ra nước ngoài, vậy ông do ai sinh ra? Thân sinh của ông có phải người Việt Nam không? Một người chê cả nguồn gốc của mình, vậy họ là giống gì? Phải chăng là một kẻ bất hiếu? Nếu ông xấu hổ vì làm người Việt Nam thì trong những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trước đây, khi bao nhiêu người đã ngã xuống thì lúc đó ông đang ở đâu? Ông được hưởng thành quả của những người đã ngã xuống vì Tổ quốc mà ông lại chửi lại Tổ quốc mình? Vậy ông có phải là kẻ bất nghĩa không? Một kẻ bất nhân, bất hiếu, bất nghĩa, như ông, thiết tưởng làm một con người Việt Nam bình thường cũng không đáng. Vậy ông còn mặt mũi nào mà đứng giảng đạo, giảng niềm tin, dẫn dắt cho những người công giáo Hà Nội lương thiện nữa?


Ông có biết trong khi ông cảm thấy nhục nhã vì tấm hộ chiếu Việt Nam thì có biết bao người, dù vì lý do nào đó mà phải rời khỏi quê cha đất tổ, vẫn ngày đêm đau đáu một nỗi niềm được trở về Đất Mẹ. Họ không có cái diễm phúc như ông được ngày ngày bưng bát cơm thơm dẻo từ cánh đồng Đất Việt. Họ không có cái diễm phúc được từng giờ từng phút hít thở bầu không khí thổi vào từ Hồ Hoàn Kiếm thiêng liêng. Nhưng trong lòng họ, trong dòng máu họ, trong trái tim họ, Việt Nam là hai tiếng thiêng liêng không bao giờ thay đổi. Ông thật không xứng đáng là con Lạc, cháu Hồng, nếu ông thấy nhục nhã thì hà cớ gì mà ông vẫn ở lại nơi đây?
Chính phủ Hoa Kỳ đã cho tiết lộ hai tài liệu mật liên quan đến quan điểm của Hoa Kỳ về Hoàng Sa và Trường Sa, đó là biên bản hai cuộc họp về vấn đề Đông Dương ngày 25 tháng 1, 1974, và 31 tháng 1, 1974, do ngoại trưởng Henry Kissinger chủ trì.

Trước khi trình bày về tài liệu này, để độc giả có thể nắm được vấn đề một cách dễ dàng, chúng tôi xin nói qua về tương quan lực lượng giữa hải quân Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và quân đội Trung Quốc khi biến cố Hoàng Sa xảy ra và lý do tại sao Hoa Kỳ từ chối không yểm trợ cho hải quân và không quân VNCH chống lại Trung Quốc.

Tương quan lực lượng

Tính đến năm 1975 hải quân VNCH có quân số lên tới 39,000, gồm 1,611 tàu thuyền đủ loại, được phân thành 5 vùng duyên hải, hai vùng sông ngòi và một hạm đội tuần duyên có 83 chiến hạm đủ loại. Những chiến hạm có thể chiến đấu trên biển gồm các loại sau đây: 2 khu trục hạm, 7 tuần dương hạm, 8 hộ tống hạm, 9 tàu đổ bộ và 4 tàu trợ chiến. Với lực lượng như thế, quân lực VNCH không thể huy động để chống lại được quân Trung Quốc trên biển hay sao?

Sở dĩ quân lực VNCH không thể chống lại Trung Quốc vì các lý do sau đây:

(1) Quân đội Trung Quốc vượt trội hơn quân lực VNCH về cả hải quân lẫn không quân. Trong trận Hoàng Sa, lực lượng hai bên chênh lệch một cách rõ rệt: Trung Quốc đã sử dụng một lực lượng hải quân hùng hậu gồm hơn 16 chiếc đủ loại, từ tàu đánh cá ngụy trang Nan Yu cho đến hai 2 chiến hạm loại Hainan 281, 282, 2 chiến hạm loại Jiangnan 271, 274 và 4 phi tiễn đỉnh Komar mang số 133, 137, 139, 145. Trong khi đó, lúc đầu hải quân VNCH chỉ có tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ 16. Những ngày tiếp theo hải quân VNCH mới tăng cường thêm các chiến hạm HQ 4, HQ 5 và HQ 10.

(2) Trung Quốc đã huy động cả hải lục không quân để áp đảo, trong khi quân lực VNCH không thể huy động không quân vì Hoa Kỳ từ chối giúp đỡ (chúng tôi sẽ nói sau).

(3) Vì quyết chiếm Hoàng Sa, hải quân Trung Quốc đã hoạch định một kế hoạch hành quân chu đáo: Khi lâm trận, họ đã áp dụng chiến thuật "cài răng lược" khiến hải quân VNCH không thể xoay trở được. Hải quân VNCH đã bị trúng kế địch.

Tuy các chiến hạm Trung Quốc chỉ trang bị đại bác 100 ly (3.9 in.) hay đại bác 85 ly (3.5 in), còn chiến hạm HQ 16 của hải quân VNCH có đại bác 127 và HQ 10 có đại bác 76.2, nhưng Trung Quốc áp dụng chiến thuật bám sát các chiến hạm của hải quân VNCH trong khoảng cách gần, nên đại bác của hải quân VNCH không sử dụng được.

Cho dù cuộc chiến xảy ra ở tầm xa, hải quân VNCH cũng không thể thắng được vì khi thực hiện "Việt Nam hoá" chiến tranh theo đúng lịch trình của kế hoạch "Accelerated Turnover to the Vietnamese" (ACTOV), Hoa Kỳ có giao cho hải quân VNCH một số chiến hạm nhưng họ đã gỡ đi các giàn phóng phi đạn được trang bị trên đó, trong khi nhiều chiến hạm Trung Quớc có trang bị giàn phóng phi đạn và được không quân yểm trợ.

Tóm lược các diễn biến

Các bài về trận đánh Hoàng Sa được viết quá nhiều với những cách nhìn khác nhau, chúng tôi chỉ xin ghi lại các nét chính.

Trong cuốn hồi ký "Can trường trong chiến bại," phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, tư lệnh hải quân Vùng I Duyên Hải, người chỉ huy trận đánh Hoàng Sa, có kể lại rằng ngày 15 tháng 1, 1974, trung tá Lê Văn Thự, hạm trưởng tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ 16 được lệnh đưa địa phương quân và nhân viên khí tượng ra Hoàng Sa thay toán ngoài đó đã hết nhiệm kỳ. Có hai sĩ quan công binh đi theo để sửa cầu tàu. Ông Jerry Scott thuộc văn phòng Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ ở Đà Nẵng cũng xin cho một viên chức Mỹ là Gerald Kosh đi theo để biết Hoàng Sa. Nhưng khi người nhái của VNCH đổ bộ lên các đảo Duncan và Drummond thì đụng ngay một toán quân Trung Quốc ở trên đó.

Ngày 17 chiến hạm HQ 16 báo cáo hai tàu đánh cá của Trung Quốc không tuân lệnh ra khỏi lãnh hải Việt Nam theo lệnh của chiến hạm Việt Nam. Sau đó, lại có thêm hai tàu Trung Quốc chở quân tới gần đảo và đã có nhiều cờ Trung Quốc trên bờ. Bộ tư lệnh Hải Quân ở Sài Gòn đã phái thêm khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4 do trung tá Vũ Hữu San ra tăng cường. Sau đó hai chiến hạm Trần Bình Trọng HQ 5 và Nhật Tảo HQ 10 cũng được gởi ra Hoàng Sa. Chiều 18, các chiến hạm của hai bên chạy kế ngang nhau và chĩa súng vào nhau.

Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại đã liên lạc với bộ tư lệnh Hải Quân tại Sài Gòn xin cho biết có đơn vị nào của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ ở trong vùng hay không. Tin tức xác nhận các chiến hạm Hoa Kỳ đang ở rất gần các chiến hạm VNCH.

Lúc 10 giờ ngày 19, đại tá Hà Văn Ngạc, chỉ huy chiến thuật (OTC) tại mặt trận, đang ở trên soái hạm Trần Bình Trọng HQ 5, báo cáo các chiến hạm hai bên đang ở vị trí quá gần nhau trong thế "cài răng lược." Toán đổ bộ của chiến hạm HQ 16 được lệnh trở ra chiến hạm. Khi toán đổ bộ đang dùng thuyền cao su chèo ra khơi thì trận chiến bùng nổ.

Bộ tư lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải được tùy viên quân sự Hoa Kỳ cạnh Hải Quân Vùng I cho biết, theo tùy viên quân sự ở Sài Gòn, có khoảng 17 chiến hạm Trung Quốc và 4 tàu ngầm đang hướng về Hoàng Sa. Ông ta cũng cho biết các phản lực cơ chiên đấu của Trung Quốc sắp cất cánh từ đảo Hải Nam để tấn công các chiến hạm của VNCH tại Hoàng Sa.

Trận hải chiến chỉ kéo dài trong hơn 30 phút. Các chiến hạm VNCH không đuổi theo các chiến hạm Trung Quốc và các chiến hạm Trung Quốc cũng không đuổi theo các chiến hạm VNCH. Không chiến hạm nào của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ tiến vào nơi có cuộc giao tranh.

Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ 10 bị bắn chìm, thiếu tá Ngụy Văn Thà với 24 quân nhân khác bị tử thương, 26 người mất tích, 23 thủy thủ trôi dạt được tàu của hãng Shell vớt.

Hai khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4 và Trần Bình Trọng HQ 5 bị hư hại, mỗi chiến hạm có hai chiến sĩ bị tử thương.

Tuần dương hạm HQ 16 do trung tá Lê Văn Thự chỉ huy, bị trúng đạn nghiêng một bên, được lệnh quay về Đà Nằng, có một chiến sĩ bị thương và 16 chiến sĩ khác trôi dạt trên thuyền cao su về đến Quy Nhơn.

Có 43 người đã bị bắt làm tù binh, trong đó có ông Gerald Kosh, được đưa về Quảng Châu, sau đó được trao trả cho VNCH qua Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế.

Về phía Trung Quốc, hộ tống hạm Kronkstad 274 bị chìm, hộ tống hạm Kronkstad 271 và hai trục lôi hạm 389 và 396 bị hư hại nặng, các sĩ quan chỉ huy là Vương Kỳ Uy, Triệu Quát và Diệp Mạnh Hải đều bị tử trận.
  
Mỹ từ chối yểm trợ

Có một điều quan trọng mà phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại không biết đến, đó là Hoa Kỳ đã từ chối yểm trợ VNCH trong trận chiến Hoàng Sa.

Ngày 18 tháng 1, 1974, bộ tư lệnh Hải Quân VNCH biết rõ hàng không mẫu hạm USS Enterprise của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ đang có mặt trong vùng gần Hoàng Sa. Phó đề đốc Diệp Quang Thủy, tham mưu trưởng bộ tư lệnh Hải Quân đã hỏi đại tá Kussan, tùy viên quân sự Mỹ tại bộ tư lệnh Hải Quân rằng phi cơ chiến đấu của Việt Nam khi đi tác chiến tại Hoàng Sa có thể hạ cánh xuống hàng không mẫu hạm USS Enterprise để xin tiếp tế nhiên liệu được không? Phó đề đốc Thủy cho biết Đà Nẵng cách Hoàng Sa trên 150 hải lý. Do đó, phi cơ chiến đấu sẽ không đủ nhiên liệu để có thể vừa đi vừa về. Nếu phải mang theo hai bình xăng thì không thể tác chiến được.

Sau khi nói chuyện với tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, đại tá Kussan đã trả lời cho phó đề đốc Diệp Quang Thủy như sau: Các chiến hạm Mỹ không thể tiếp tế cho quân lực VNCH vì hai lý do sau đây:

Lý do thứ nhất, hiệp định Paris cấm Hoa Kỳ không được tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền nam Việt Nam (điều 4).

Lý do thứ hai, Tu Chính Án ngày 5 tháng 4, 1973, cấm Hoa Kỳ giúp Việt Nam mà không có sự chấp thuận trước tiên và rõ ràng của Quốc Hội, và luật ngày 21 tháng 9, 1973, cấm Hoa Kỳ sử dụng lực lượng quân sự ở Đông Dương. Vì thế, các chiến hạm Hoa Kỳ không thể tiếp tế nhiên liệu cho các chiến đấu cơ VNCH được. Các chiến hạm Hoa Kỳ chỉ có thể cứu giúp quân đội VNCH khi bị các tai nạn mà thôi. Tuy nhiên, đó phải là các tai nạn bình thường, còn các tai nạn do chiến đấu, các chiến hạm Hoa Kỳ cũng không thể cứu giúp được.

Cần lưu ý, trong thời gian còn chiến tranh Việt Nam, Bộ Chỉ Huy Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (The US Military Assistance Command, Vietnam – MACV) là cơ quan chỉ huy quân sự thống nhất của Mỹ tại miền nam Việt Nam. Tuy nhiên, sau hiệp định Paris, cơ quan này bị hủy bỏ và được thay thế bắng Văn Phòng Tùy Viên Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (Defense Attaché Office – DAO) kể từ ngày 28 tháng 1, 1973. Do đó, không còn các cố vấn Mỹ nữa mà chỉ còn các Tùy Viên Quân Sự.

Quan điểm của Hoa Kỳ quá rõ

Như chúng tôi đã trình bày ở trên, theo tài liệu Hoa Kỳ vừa công bố, trong hai cuộc họp do ngoại trưởng Kissinger chủ trì ngày 25 tháng 1, 1974, và ngày 31 tháng 1, 1974, tức sau khi Hoàng Sa bị mất, vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa đã được đưa ra bàn cãi. Nội dung tài liệu này đã được đài BBC trình bày ngày 3 tháng 10, 2011, chúng tôi xin ghi lại những điểm quan trọng sau đây:

1. Về trận đánh Hoàng Sa:

Đô đốc Thomas H. Moorer, chủ tịch Hội Đồng Tham Mưu Liên Quân: "Chúng ta đã tránh xa vấn đề."

Ngoại trưởng Kissinger: "Chúng ta chưa bao giờ ủng hộ tuyên bố chủ quyền của họ [Nam Việt Nam]?"

Đô đốc Moorer: "Toàn vùng đó là cả vấn đề. Trường Sa và các đảo khác cũng có cùng vấn đề - đó là lãnh thổ đang tranh chấp. Chúng tôi đã ra lệnh tránh khỏi vùng đó."

Ngoại Trưởng Kissinger: "Ai khởi đầu trận chiến ở Hoàng Sa?"

Đô đốc Moorer: "Một đội tuần tra của nam Việt Nam trong khu vực phát hiện một số tàu Trung Quốc tiến về các đảo; họ tiến đến và đưa khoảng 75 người lên đảo Duncan (Quang Hòa). Đó là một trong các đảo phía nam của nhóm Nguyệt Thiềm."

"Họ phải đối đầu với hai đại đội Trung Quốc. Phía nam Việt Nam phải rút sang các đảo gần đó."

"Bốn tàu Nam Việt Nam và khoảng 11 tàu Trung Quốc sau đó có trận hải chiến trong khi quân nam Việt Nam rút lui."

2. Quan điểm của Hà Nội:

Ngoại trưởng Kissinger: "Phản ứng của Bắc Việt trước toàn bộ vụ việc là thế nào?"

William Colby, giám đốc CIA: "Họ bỏ qua, nói rằng nó nằm dưới vĩ tuyến 17 và vì thế không có ảnh hưởng đến họ. Nói chung, họ không đưa ra lập trường, không theo bên nào."

William Smyser, thuộc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia: "Nó đặt họ vào tình thế tế nhị. Họ không nói gì cho đến khi đã xong chuyện, và rồi chỉ nói họ lên án việc dùng vũ lực."

Ngoại trưởng Kissinger: "Tôi biết họ nói gì rồi, nhưng họ thực sự cảm thấy thế nào?"

Đô đốc Moorer: "Tôi nghĩ họ lo lắng."

William Colby: "Bắc Việt có thể muốn có mỏ dầu tại đó."

Ông Clements, thứ trưởng quốc phòng: "Đừng quá mơ mộng về khả năng có dầu tại các đảo đó. Đó vẫn là chuyện trên trời. Hiện chẳng có gì ở đấy cả, chỉ là tương lai thôi. Hiện nay dầu hỏa ở đó không khả thi. Chỉ là tiềm năng."

Đô đốc Moorer: "Người Pháp nắm giữ các đảo trong thập niên 1930 cho đến khi Nhật chiếm trong thế chiến. Năm 1955, người Pháp từ bỏ chủ quyền các đảo và Nhật đã làm như thế năm 1951. Nam Việt Nam và Trung Cộng kể từ đó cùng nhận chủ quyền. Philippines có tuyên bố yếu ớt, nhưng chỉ là trên giấy."

Sau đó, đô đốc Moorer xác nhận lại với Henry Kissinger: "Chỉ thị của tôi là tránh xa khỏi toàn bộ khu vực."
  
3. Chuyện bảo vệ Phillippines:

Trong một cuộc họp ngày 31 tháng 1, 1974, tại Bộ Ngoại Giao, ngoại trưởng Kissinger được thông báo: "Không có dấu hiệu Trung Quốc định tiến về Trường Sa. Dẫu vậy, có sự lo ngại đáng kể từ phía Nhật, Philippines và đặc biệt là nam Việt Nam, mà theo tin báo chí thì hôm nay đã gửi đoàn 200 người ra chiếm một số hòn đảo lâu nay không ai ở trong khu vực Trường Sa."

"Đài Loan đã chiếm ít nhất một đảo và Trung Quốc cũng vậy."

"Trong bối cảnh này, Philippines đã hỏi Mỹ liệu Hiệp Ước An Ninh Mỹ-Philippines có được dùng nếu quân Philippines kéo ra Trường Sa và bị Trung Quốc tấn công."

Các quan chức Mỹ có mặt trong cuộc họp đồng ý rằng không có câu trả lời rõ rệt và họ muốn để ngỏ sự mơ hồ trong câu trả lời cho Philippines.

Một người trong cuộc họp, ông Hummel, nói: "Tạp âm xung quanh các tuyên bố của chúng ta về những hòn đảo này hẳn đã đủ cho người Philippines hiểu rằng chúng ta không có ý định hay chúng ta không muốn."

Ngoại trưởng Kissinger kết luận: "Câu trả lời của chúng ta là đúng. Chúng ta không nên nói chúng ta sẽ bảo vệ họ."
  
Một vài nhận xét

Qua các sự kiện vừa được trình bày nói trên, chúng tôi có một số nhận xét như sau:

(1) Hoa Kỳ không muốn can dự vào các tranh chấp về chủ quyền trên Biển Đông vì sợ đụng chạm với Trung Quốc, nơi Hoa Kỳ có rất nhiều quyền lợi.

Mặc dầu trong chuyến viếng thăm Á Châu vừa qua, Tổng Thống Obama đã cho các quốc gia trong vùng hiểu rằng Mỹ sẽ "bao vây" Trung Quốc cả về kinh tế lẫn quân sự, nhưng trong cuộc họp báo hôm 8 tháng 12, 2011, tại Bắc Kinh, kết thúc cuộc đối thoại quốc phòng thường niên Mỹ-Trung, bà Michele Flournoy, thứ trưởng Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, khẳng định việc Washington tăng cường các liên minh quân sự tại Á Châu không nhằm mục đích "ngăn chặn" Trung Quốc.

(2) Giữa Philippines và Mỹ có hiệp ước ngày 30 tháng 8, 1951, bảo vệ các hòn đảo, tàu thuyền và máy bay của Philippines trên Thái Bình Dương khi bị tấn công, nhưng khi có đụng độ, Philippines có thực sự được bảo vệ hay không thì có thể là vấn đề khác. Ngoại trưởng Kissinger đã nói rất rõ: "Câu trả lời của chúng ta là đúng. Chúng ta không nên nói chúng ta sẽ bảo vệ họ."

Bản tin của đài VOA ngày 24 tháng 6, 2011 cho biết trong cuộc họp ngày 23 tháng 6, 2011 ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton nói với ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario rằng Hoa Kỳ cam kết bảo vệ Philippines giữa lúc xảy ra vụ tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc tại Biển Nam Trung Hoa. Nhưng tờ Philippine Daily Inquirer dẫn lời giáo sư Pacifico Agabin, cựu khoa trưởng luật khoa của đại học Philippines, cho biết nội dung của bản hiệp ước ký năm 1951 ghi rõ Mỹ không tự động bảo vệ Philippines một khi có xung đột trên biển Đông. Điều 4 của hiệp ước quy định trong trường hợp xảy ra tấn công trên Thái Bình Dương, tổng thống Mỹ phải được sự chấp thuận của quốc hội mới tiến hành điều quân (Căn cứ vào War Powers Resolution ngày 7 tháng 11, 1973 của lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ).

(3) Hoa Kỳ từ chối tiếp tế xăng cho các phi công VNCH để tác chiến ở Hoàng Sa và nói rất rõ lý do tại sao Hoa Kỳ không thể làm như vậy. Điều này chứng tỏ Hoa Kỳ không còn muốn dính líu gì đến miền nam Việt Nam nữa. Nhưng tổng thống Thiệu, người được Mỹ đưa lên cầm quyền ở miền Nam, quá yếu kém về chính trị, không thể hiểu được như vậy. Ông cứ nằng nặc đòi thêm viện trợ và cuối cùng chơi trò "tháu cáy," rút khỏi Cao Nguyên và miền bắc trung phần, để Mỹ hoảng sợ miền nam mất, phải nhảy vào. Nhưng Mỹ đã không can thiệp khiến miền nam bị sụp đổ một cách nhanh chóng, gây tang thương cho không biết bao người. Tội ấy trời khó dung và đất khó tha.

(4) Tất cả các sự kiện được trình bày nói trên cho thấy cả Việt Nam lẫn Philippines phải tự lo lấy thân phận mình, đứng trông chờ ở Mỹ.


| Copyright © 2013 Non sông Việt Nam
Mọi trích dẫn từ blog xin vui lòng ghi rõ nguồn " Blog Kênh Việt Nam"